Home
  
Search từ khóa phuongngugia           English alternative text
Image alternative text alternative text alternative text alternative text alternative text alternative text alternative text

Tìm trên Google.com         Tìm trong Site này

 Trước tiên xin hãy đọc lời ngỏ này 

Đồ cổ

- Hỏi về đồ cổ hả ?
- Dạ con xin được nghe chỉ dạy của bác về cái thứ mà con vô cùng mê đắm này.
- Chơi lâu chưa?
- Dạ con cũng mới thôi ạ...


Thằng tui đã từng gặp ông già đại khó tánh Vương Hồng Sển tại nhà ổng trong hẻm ở Bình Thạnh kỳ đi theo anh Sùng ở ngoài Đồng Khỏi hồi chưa nhảy vô nghề.

Tay chơi họ Vương, tác giả của "Thú chơi cổ ngoạn", ông già làm như bị gãi trúng chỗ ngứa ngồi thao thao bất tuyệt về mấy món trân phẩm bằng sành sứ Giang Tây ngũ sắc thời Càn Long. Ông họ Vương say sưa sảng khoái nào là "nhứt sứ nhì sành tam đồng tứ mộc...", nào là "nghề chơi cũng lắm công phu...". Thằng tui dòm ông Sùng ngồi thái độ cung kính rõ ra vờ vịt, vậy chớ ảnh nghe làm như nuốt từng câu mong mót lóm chút nghề còm từ ông già sừng sỏ cổ ngoạn, còn thằng tui ngồi đó như vịt nghe sấm, mắt láo liên dòm mấy thứ kêu bằng đồ xưa, bụng thầm tính mấy thứ bình hũ tô chén nhất phẩm nhị phẩm của ông già gân này giờ mang ra bán được cỡ nhiêu...

Theo tui được biết, đồ xưa quý giá, quý và có giá (!) ở chỗ phải là một thứ trân phẩm tuyệt đẹp qua nhiều thế kỷ và vẫn nguyên vẹn, ngày nay còn được là rất hiếm, cái chi đẹp đẽ nhiều người mê mà hiếm ắt phải quý.

Đồ xưa cũng không có ngoại lệ, có câu "nhứt kỳ nhì cổ", ngồi nghe ké bực thầy nói chuyện mà thằng tui lơ mơ hiểu rằng đồ cổ, nhứt là thứ đồ Ngự dụng ngày nay hiếm thiệt nhưng nếu có duyên và may mắn vẫn còn cơ hội kiếm được cái thứ hai chớ cái thứ kỳ quái tạo hóa kiến tạo thì bói đâu ra cái giống in hệt. Ông thầy sành sứ trấn Cảnh Đức bên Tàu ngày xưa trong lúc làm đồ dâng ngự dụng một phút ngẫu hứng xuất thần mà pha màu làm thử một món cho đừng giống ai, vậy chớ món đồ đó đang trong lò lửa rực, men khi bị lửa làm chín nó chảy theo ý nó chớ tay nghề bậc thầy nào mà xía vô đặng, chừng ra lò mắt mới dòm thấy miệng lắp bắp ôi trời là đẹp... , chỉ còn biết chắt lưỡi trầm trồ bàn tay cao xanh thiệt khéo, đám người trần mắt thịt cung kính truyền tay mà ngắm nghía, mà sướng khoái vô kể. Bởi rứa hậu sanh nhiều đời mới có cái mà nói, mà bàn cãi.
./

“Hủng pào sựa”, “Lãn pào sựa”

Đá quý đỏ (Ruby) còn có tên là “Hồng ngọc”, ở xứ mình có hai nơi khai thác chủ yếu là bãi Lục Yên tỉnh Yên bái và bãi Quỳ Châu tỉnh Nghệ An. Đá xanh (Saphir) còn có tên "Bích ngọc" thì đẹp nhứt là ở huyện Di Linh tỉnh Lâm Đồng, nhì là bãi Gia nghĩa tỉnh Đak Nông, thứ ba mới tới bãi Hàm Thuận yên tỉnh Thuận Hải.

Mấy bãi Lục Yên và Quỳ Châu thì đá xanh dính màu đỏ do bị tác dụng bởi mangan nên không đẹp.

Nhiều thằng từ nghèo khổ xơ xác nay nhà cửa vốn liếng dồi dào nghiễm nhiên góp mặt dân Saigon. Còn nhiều lắm mấy đàn anh thân mang bộ đồ rách mở miệng toàn thứ giọng trọ trẹ, thằng nào gần lắm thì cũng “Im ra bín xia im dzìa pheng thiếc” (em ra bến xe em về Phan Thiết). Như thằng đàn anh N. “vịt” từng tuyên bố : “Chú N. “vịt” đây từ ngoài quê vô đây trong túi chỉ hai ngàn đồng mà kiếm mấy trăm triệu rồi… nay bia ôm hết tiền là tiền bá tánh chớ nào phải tiền của chú N. đây đâu mà bà xã lo chi cho mệt, mai chú N. đây lại kiếm chớ có sao?”. Mấy kỳ đá banh uốt cớp chi đó là các đàn anh trọ trẹ rủ nhau rụng như sung, vậy chớ còn không chịu bật bãi về quê nhà lo mần ruộng mà bám đất saigon vật vờ như ma chơi…

Tới khi bãi đá xanh Gia Nghĩa nổi lên, nhiều đàn anh nhỏ lớn quen với rừng rú nhanh chân nhảy lên bãi từ rất sớm, thế rồi lại thấy tụi nó “sâu bọ lên làm người” rủng rẻng tiền bạc xe cộ dân Saigon lé mắt… Nhưng rồi bản chất quê mùa ngu dốt lưu manh chưa có điều kiện để mà từ bỏ, một thời gian lại khiến phần lớn đám đàn anh đàn chị là người ở đâu tận “cây số trăm hai lăm” hay Phan Thiết chi đó chỉ còn thiếu nước xách giỏ mà đi ăn mày vì thói bài bạc gái mú…


Tình cờ đọc qua Blog của daithieugia nào đó kể qua về mấy tay buôn đá thời đó ngoài Bắc, có tên của đàn anh Quang “lợn” tui đã gặp và mua bán với nó ở Saigon, thằng Quang “lợn” này nhỏ tuổi chừng 24-25 (1991), nghe nói nó thứ thứ máu mặt hạng nhì ba ở Lục Yên giàu cỡ nào không biết chớ từ Lục Yên vô Saigon côi cút thì coi bộ yếu rõ… đàn anh lừng tiếng gì mà đi dâu cũng lơn tơn ngồi xe ôm thui thủi không một thằng em theo hầu thì chớ kể.

Thằng tui từng nghe nói hạng nhứt miền Bắc là anh em Phà, Sằn nào đó trên bãi mà tui chưa gặp, nghe kể hai thằng anh em đó làm ăn lớn với đám Thailan, Trung Quốc chớ không thèm buôn bán với dân buôn đá Saigon ít tiền. Nghe nói anh em tụi nó có nhà Saigon vô ở chơi chớ khỏi thèm để ý tình hình mua bán ở Saigon.


Năm chín mươi tới chín ba làng đá Saigon cực thịnh, năm chín tư tới chín sáu rớt thê thảm, từ năm chín bảy thằng nào còn vốn lo nhảy tìm cách khác kiếm ăn, số còn lại theo nhau “chết” sạch, thằng tui đầu năm chín lăm dù ngày vẫn kiếm hai trăm ngàn nhưng vẫn mắc cỡ mình từ thân phận chủ cả tiếng tăm nay rớt xuống hàng cò lái nên bỏ Saigon về quê bán muối tới tháng 5/2001 lại dắt một thằng em trở về Saigon chinh phạt “lấy lại nước Pháp”.
./

Nhà thờ Búng

Từng được đàn anh dắt đi ăn đi chơi, cứ ít bữa lại dúi ít tiền biều mày cầm uồng café, thằng Tý hồi này rất hay chạy xuống cửa hàng tui ngồi chơi với thằng Út và thằng Tâm...

Một bữa thằng Tý hỏi tui anh ơi, từ Saigon đi Sông Bé anh có biết nhà thờ Búng chỗ nào không, tui nói chợ Búng thì tao biết, chớ nhà thờ Búng thì không, mà mày hỏi chi vậy… , thằng Tý biểu có một cái đồng hồ trong nhà thờ đó, cả dân Đồng Khởi, cả đám cò lái mấy năm nay theo mà không ai mua được…

Tui cùng thằng Út rón rén vô nhà xứ con kính chào cha, ông cha chừng trên dưới bốn mươi tuổi dáng nhỏ con bước ra e hèm mấy anh hỏi ai, tui khoanh tay lễ phép thưa cha con nghe nói đây có cái… thằng tui vừa mở miệng thì ngài đại diện giáo hội xua tay ngắt ngang: hỏi mua đồng hồ chớ gì, nhà thờ không bán, mấy anh đi hỏi chỗ khác. Thằng tui lật đật cúi thấp dạ thưa cha, tụi con không dám ạ, con chỉ xin cha cho coi cái thùng của đồng hồ rồi con về nhờ thợ đóng cái thùng giống vậy thôi ạ. Ông cha hòa hoãn trở lại nói thì ra là vậy à, mấy anh ở đâu, làm sao có đồng hồ giống như vầy, mời mấy anh vô…

Thằng tui vừa rờ rẫm xuýt xoa khen cái… thùng gỗ đựng đồng hồ đẹp quá, vừa kể lể con có cái đồng hồ giống vầy mà nó có tới năm cái chuông, không biết cái này mấy chuông… thằng tui thò tay rờ rẫm… ba chuông, hổng ngon…

Ậy, cái này ít chuông quá thưa cha, cái của con chuông nó kêu hay lắm và vân vân.

Sau khi an tọa, cha Minh hỏi về cái đồng hồ của tui sao mà có, tui thành thật thưa cha, là con mua được, con là dân mua bán, con mua nhiều lắm nhưng chưa hề gặp cái nào còn nguyên thùng gỗ, vậy con xin coi để về bắt trước kêu thợ làm mấy cái giống vầy…

Tuần sau tui cùng thằng em tới thăm cha Minh, ngồi rung đùi tay cầm ly bia San Miguel, ngài hỏi sao con biết cha thích loại bia này, thằng Út choang một câu làm tui choáng dạ thưa cha, vì thứ này rẻ… , cha Minh tảng lờ như không nghe mà đang chăm chú nghe tui nói dạ thưa cha, vì loại này không đắng nên con thích, con nghĩ chắc cha cũng thích…

Cứ khoảng hơn mười ngày là thầy trò tui lại đến, cha Minh đặt ly bia xuống bàn, với tay rút điếu ba số năm, bật quẹt đốt, người ngả người ra ghế salon trong nhà xứ đã đóng kín cửa, ngài nói tụi bay bày vẽ chi cho tốn, lên thăm cha có điếu thuốc là được rồi đâu cần lần nào cũng mang cả thùng bia, nhân vui chuyện, tui hỏi thưa cha làm tới chức linh mục chắc học thức phải cao ghê lắm, cha Minh gật đầu biểu ít cũng phải cử nhơn, mà cử nhân là phải đủ bốn chứng chỉ… , thằng tui le lưỡi trầm trồ thán phục…

Một bữa nọ, cha Minh cầm ly bia làm nột phát hết phân nửa, ngài nói bữa nào tụi bay lên sớm, tao biểu bà Sáu bắt con cá tai tượng chiên xù mình nhậu chơi. Vưa nói ổng vừa chỉ về phía kệ nơi có con cá đen to tướng đang bơi trong hồ kiếng nhỏ chật chội… thằng Út mau mắn châm đầy ly cho cha, ngài chỉ ly bia nói thôi hết chai này nghỉ nha, chút ba giờ cha còn mắc làm lễ, để cha kể cho nghe, ở nhà thờ nọ có ông cha sở nhậu quên thời gian, chừng làm lễ ổng nói chúa ở đâu anh chị em hihi… thằng Út hì hì cười theo, thằng tui cũng cố rặn để cười góp…

Cư thế… Một bữa nọ, cha Minh tay cầm ly bia ực môt phát cạn tẩy rôi nói, cái đồng hồ của nhà thờ cũ quá hổm rày trục trặc hoài… thằng tui chợt nghe tràn cảm giác chiến thắng, tui gật đầu dạ phải thưa cha, vụ này con rành lắm, lâu quá nó mòn chạy mất chính xác, mang sửa thì thợ chê tiền công sửa ít mà lắc đầu, thiệt… đồng hồ điện tử thời nay đẹp mà chính xác, hổng hiểu sao có người ngoại quốc lại khoái thứ này mà kiếm mua, cổ mà trục trặc hoài thiệt con hổng ham… Cha Minh nheo mắt nói vậy chớ con định trả cho nhà thờ cái đồng hồ này bao nhiêu. Thằng tui nhỏ nhẹ dạ thưa cha, con là dân mua bán nhưng với nhà thờ con không dám trả giá, con xin gởi một cây hai… dạ cái của nhà thờ chánh tòa Phú Cường là con ủng hộ mà lấy chớ cái đồng hồ đó mặt bể nát rồi con… không mua, đồ xưa chỉ có giá khi còn nguyên vẹn ngon lành chớ hư bể thì còn chi là quý mà nói… mà đồng hồ thứ này không phải là đồ cổ lại có nhiều nên mua về thì cũng phải chờ khách lâu lắm đó thưa cha. Ông cha nói trước giờ nhiều người trả giá mà cha không đồng ý bán, đồ nhà thờ đâu phải để bán… giờ cha để con một cây ba, mà vàng chín tuổi tám phải hông con. Tui dạ dạ rồi nói qua chuyện khác, cha Minh đốt thêm điếu thuốc rồi ngồi im nghe tui huynh thiên địa, khi tui hối thằng Út chuẩn bị về để cha nghỉ ngơi, thằng Út biểu anh ơi, vụ đồng hồ anh tính sao, em nghĩ mình thêm chút đỉnh cho… nhà thờ chắc cũng không đến nỗi lỗ, thằng tui gật đầu, quay qua cha Minh nói thưa cha con xin gởi nhà thờ thêm năm phân nữa… cha Minh nheo nheo mắt dòm tui rồi dòm thằng Út, chừng phút sau cha nói thôi vầy con trả cho nhà thờ ba triệu ba chẵn cha để cái đồng hồ cho con, mà con chỉ lấy cái máy thôi nhé để cái thùng lại cho nhà thờ, tui thưa dạ giờ con xin kiếu, sáng mai con lên.

Chiếc đồng hồ mang về thì đã có thằng Keo tay cầm vàng chực sẵn nài nỉ xin mua với giá hai cây.

Ngay khi vụ mua bán này chưa xong, nhờ linh cảm qua vài dấu hiệu mà tui đã nghi ngờ mà cảnh giác hai thằng em người nhà đã bị người ngoài mua chuộc. Khi tui vặn hỏi thằng Tâm, nó nói:
- Ông Thủy (tức Thủy “bọ”, là anh kết nghĩa với tui) rủ tui với thằng Út đi nhậu… chả nói hai đứa mày báo cho anh biết thằng Phương sắp mua món gì rồi anh chia lời cho… nhưng đời nào tui làm vậy với anh.

Ít lâu sau, bữa đó đang ngà ngà, cha Minh nói với tui:
- Cha Chánh ở nhà thờ Lái Thiêu cũng có một cái đồng hồ giống cái ở đây, nếu muốn thì con tới đó gặp cha Chánh.

Sau khi từ biệt cha Minh, tui tức tốc xuống Lái Thiêu tìm tới nhà thờ rồi vô xin gặp cha Chánh, ông cha tóc muối tiêu mặt cau có tỏ ra khó chịu khi tui leo lên ghế thò tay vô rờ mò cái đồng hồ... sau khi nghe tui khép nép thưa hỏi giá tiền thì lạnh lùng phang một câu:
- Cái đồng hồ ở Búng 3 triệu thì cái này cũng 3 triệu, anh mua được thì mua không thì thôi.

Tui kính cẩn:
- Dạ thưa cha, cái đồng hồ này tuy bề ngoài giồng hệt cái đồng hồ của nhà thờ Búng nhưng thiệt ra thì khác nhiều lắm ạ, khác vì cái này chỉ có một chuông còn cái ở Búng có tới 3 cái chuông lậng, vì vậy giá cả khác biệt nhiều lắm thưa cha...

Không đợi tui nói hết, ông cha sở có thân hình ốm nhách ẩn trong chiếc áo chùng đen phầy tay:
- Vậy thôi chào anh.

Rồi te tái bỏ đi vô nhà trong kệ cha hai thằng tui xớ rớ tại nơi nhà xứ. Tui cố nén tiếng chửi thề kêu thằng Út trở ra rồi đi về. Sau đó khi cha Minh hỏi về cái đồng hồ Lái Thiêu tui đã giải thích vì sao không mua cái đồng hồ ở nhà thờ đó.

Sau này, tui nhờ cha Minh giới thiệu để tới gặp cha sở nhà thờ xứ Phước Vĩnh huyện Phú Giáo, vậy nhưng hỏng mua được món gì.

alternative textNói thêm: ông cha Minh có một chú em ruột hàng tay tổ thứ đữ trong giáo hội công giáo chớ chẳng phải vừa, đó là Tổng Giám mục Nguyễn Văn Tốt (hình bên) là sứ thần của Tòa thánh La Mã ở hai nước chi đó thuộc châu Phi.

Về Bình Dương bán phở


Năm 1997, khi quán ăn Ký Hai ở huyện Châu Đức, Bà Rịa Vũng Tàu đã ổn định, tui bàn với bà xã về Bình Dương mở thêm một quán nữa và được bả nhất trí...

Tui và hai đệ tử lỉnh kỉnh mang chuyển cái ấp-soọc loại năm trăm lít chứa bia hơi về Bình Dương cùng nhiều thứ "đồ nghề" để mở một quán ăn nhậu. Vợ chồng tui mướn phần trước của nhà ông vợ chồng ông Ngọc - bà Loan ở đường 30-4, mặt bằng thoáng mát rộng rãi, chủ nhà dể chịu ủng hộ nhiệt tình cho mượn luôn cả bàn ghế. Tui mừng lắm khi quán đã khai trương.

Không có thời, khi dẹp quán thu dọn tàn quân, tui chỉ còn biết tự an ủi mình một câu như rứa. Quán ăn Ký Hai nổi danh là thế trong vòng bán kính ba chục cây số, ở vùng quê với giá cả 4.500 đồng một lít bia hơi, một ngày bán vài ba trăm lít, 5.000 một tô phở, mổi ngày cũng bán khoảng hai trăm tô, 10.000 đồng một dĩa mồi, mỗi ngày bán khoảng hai chục ký lô thịt cá tôm mực các loại. Cuối tháng doanh số đạt cỡ chín mươi triệu.

Vậy mà về Bình Dương tui phải giăng mùng đi ngủ dài dài, bia hơi bán ngày hai ba chục lít có khi không được, mồi màng bán đồng hạng chỉ với giá 5.000 đồng một đỉa nhỏ, gồm có các món như thịt bò thăn ướp nướng vỉ, thịt bò nạm đút lò, hay khô lươn, ếch, cá, gà... lại nếu bàn khách từ năm người có khuyến mãi một đĩa sáu miếng hoành thánh chiên dòn kèm đồ chua trong khi chờ làm mồi. Khách sộp kêu dĩa mồi lớn tiền mới làm

Mít tờ Ngọc chủ nhà là ông khách sộp nhất, chiều thứ bảy là sếp trưởng ban thanh tra giao thông tỉnh Bình Phước có lính lái xe hơi đưa về nhà. Tuần nào cũng vậy, chủ nhà tiếp đãi bạn bè, khách khứa đầy nhà, họ công tác tại các cơ quan, ban ngành khác nhau ở hai tỉnh Bình Dương và Bình Phước nhưng có một điểm chung là cùng thứ giọng nói ở vùng khu bốn cũ. Chiều thứ bảy nào cũng vậy, chủ nhà ngoài các thứ mồi ngon món lạ mang từ ngoài về, ông sếp còn đích thân ra hỏi vài câu xã giao việc mua bán của tui có tốt không, ông ta lại kêu tui còn mồi gì mang ra bán hết cho ông ta, thật cảm ơn ông chủ nhà nhiều lắm lắm (*).

Tuy nhiên, việc bán quán nhậu thì chỉ mình chủ nhà mua vào mỗi tối thứ bảy thì quán tui chịu sao thấu. Tui quay qua bán thêm phở.

Nhắc đến vụ về Bình Dương bán phở buồn năm phút, tui bán quán ăn, tui rất muốn khách được ăn ngon là lẽ đương nhiên. Tui muốn giới thiệu món phở bắc nổi tiếng tới thực khách, hồi ở Châu Đức tui từng bị một thực khách quen thuộc của quán gốc người miền trung cầm chai tương ớt bắc hỏi cái chi mà thúi vậy anh Ba. Rút kinh nghiệm tui chỉ dùng tương phở của Bình Dương, thời điểm này quán phở bốn số chín đắt ghê lắm, người dân địa phương chịu lắm cái mùi xả và cái ngọt nhiều đường của quán này, bà xã tôi trước khi đi có dặn nhớ cho xả và nước lèo phải ngọt vì đã là khẩu vị ăn quen của người ta thì mình phài chiều theo.

Từ năm 1989, khi anh Thanh là Giám đốc xí nghiệp dược Sông Bé kêu tui lên đề nghị phải thay đổi một chút phần thuyết minh ý tưởng và sửa bản ma-két theo sự đóng góp của anh ấy thì Logo cho xí nghiệp dược Sông Bé của tui thiết kế sẽ được duyệt, nhưng tôi đã lẳng lặng bỏ về Sài Gòn mà không trả lời (**). Bây giờ cũng vậy, tui đã không nghe theo lời khuyên của bà xã và rồi quán phở Gia Long phải dẹp vì ế, còn nữa, món phở tái lăn mà người Bình Dương nay cũng đã biết thì năm 1997, cô gái là thực khách bữa trước khen rằng thịt bò tái có xíu gừng đập bỏ vô ăn nghe thơm hơn thì bữa nay hỏi tui có phải là do thịt bò cũ để từ hôm qua nên sáng nay phải "xào" rồi mới cho vô phở ? Thằng tui ngậm miệng hến tắt đài không còn nói được câu nào.

---------
Chú giải:
- (*) : Năm 2003, tui về Bình Dương, gặp người anh em cũ là anh Trần Đình Khánh, thời 1979 là trung úy CA Sông Bé sau chuyển Sở Công Nghiệp Bình Phước kể : "Thằng Ngọc dính vụ bán bằng lái, nó vãi hàng tỷ mới thoát chết, nay nó chạy được về trường nghiệp vụ giao thông... " (Anh Khánh bị tai biến chết năm 2006).
- (**) : cuối năm 1989, sau khi cùng nhau làm xong vụ lịch của XN Liên hiệp dược Cửu Long cho anh Ba Linh (Nguyễn Doãn Linh, sau về làm TGĐ cty gì đó thuộc BYT), thấy anh Nguyễn Quốc Khánh (năm 1996 là giám đốc công ty Minh Lộc - BYT. Chiến hữu cũ là anh Nguyễn Xuân Bản bên TT PT xuất khẩu TP kể anh Khánh bị tai biến chết đâu năm 99-2000 gì đó) được duyệt bản thiết kế Logo cho XN dược phẩm TW 2, tui chạy về Bình Dương đề nghị xin nhận thiết kế Logo cho XN dược Sông Bé.
  Nói thêm, anh Thanh nay (2007) là đương nhiệm Phó GĐ bịnh viện Y học Dân tộc tỉnh Bình Dương .
./

Cặp đôn tượng bằng đá ITALY


Thằng Tý biểu anh ơi, cặp đôn đá ITALY anh biết không, tui nói cặp đôn nào anh không biết, nó biểu anh đi đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, trước quán café chưng nguyên cặp đon màu đen đó.

Trong quán café ở Nguyễn Bỉnh Khiêm, hai người khách tình cờ khát nước ghé vô, quán vợ bộ đội vắng ế, chủ vô tình khách cố ý nên hết ly nước là nói chuyện đã khá thân mật.
Bữa sau, tui và thằng em đã là khách quen, khách rảnh rỗi cà kê, chủ mong có người ngồi cho quán có khách.

Tui chợt hỏi đôn đá màu đen để trước cửa chị có bán một cái không, bà chủ lắc đầu không, em không bán, bữa trước cũng có người hỏi mua mà em đâu có chịu bán… mà anh mua làm chi? Chỉ chờ có vậy, tui buồn buồn nói chị ơi nhà tui tuốt trên Biên Hòa lậng, nhà tui trước có cặp đôn in hệt của chị, ba tui hiện định cư bên Pháp từ năm 1975 lậng, nay ba tui báo về sắp chuyển làm giám đốc hãng Rút-Sen Việt Nam ở đường Nguyễn Huệ chị biết chỗ đó hông? Ba tui sắp về, má tui kể cặp đôn đá này hồi còn ở nhà ba tui cưng lắm, mấy năm nay bể hết một cái mà trong nhà chẳng ai thèm để ý… , nay nghe ba tui sắp trở về, má tui nói làm sao kiếm mua lại một cái đặng ổng vui lòng vân vân và vân vân. Cô chủ quán đứng lên bước vô sau quầy lụi hụi lục tìm, chút quay ra tay cầm tấm danh thiếp thơm phức đưa cho tui biểu có người này có cửa hàng đồ cổ ngoài đường Đồng Khởi đã mấy lần hỏi mua cặp đôn của em mà em không bán, ông ấy cho em tấm danh thiếp nói chừng nào bán thì kêu ông ấy, hay anh ra chỗ đó coi thử biết đâu ông đó có… Tui cầm coi thấy để Nguyễn Đức Sùng số 58 Đồng Khởi quận I, tui thở dài biểu chị ơi tui với chị giống nhau không phải người mua bán, mình thông cảm nhường cho nhau … chớ tui mà ra Đồng Khởi thì bị coi là ngoại quốc chắc, nếu có thì cũng sao mua nổi, nghe nói đồ cổ mua rẻ bèo mà bán thì giá kêu cao lắm chỉ tây mới dám mua thôi. Tui quay qua nói chuyện khác với thằng Út, tui kể hồi trước năm bảy lăm, tui còn nhỏ nhưng nhớ chuện ba tui nhiều lắm, ổng nói tiếng tây giỏi lắm…

Bũa sau vừa ghé kêu café thì cô chủ quán biểu anh gì ơi, anh mua một cái em không bán đâu, thế này nha, anh mua hai cái thì em mới bán, mà anh trả em bao nhiêu? Thằng tui ngơ ngác nói chị ơi tui mua chi tới hai cái, tui cần một thôi.. ơ mà tui cũng đâu biết nhiêu mà nói, hay chị thử gọi điện cho ông Sùng đó hỏi ông ấy mua nhiêu rồi chị bán cho tui… tui cám ơn chị lắm, hay chị bán cho ông đó một cái vậy. Cô chủ quán nói em nói anh nghe, nhà chú em cũng có một cặp mà là màu trắng, nếu anh mua thì em kêu chú để cho em cặp của ổng… và vân vân.

Cuối cùng, tui kêu xe chở hai cặp đôn bằng đá ITALY mua với giá một cây rưỡi về cửa hàng, xe vừa ngừng là sang tay cho thằng Keo giá hai cây.

Nửa tiếng sau, anh Sùng từ đâu chạy ào tời hét thằng Phương đâu rồi, sao mày dám mua đồ của tao, tui ngơ ngác nói anh ơi, hai cặp đôn em mua trong nhà người ta sao lại là của anh, đàn anh trợn mắt sùi bọt mép la hai cặp đôn đá là của tao gửi nhà người ta tao chưa lấy sao mày dám mua… thằng tui gãi đầu anh ơi cái đó anh phải hỏi chủ nhà chứ em đâu biết gì, em đi ngang nhìn thấy để trước cửa, em vô hỏi người ta có bán không, người ta đồng ý bán vậy là em mua chứ em nào biết gì mà anh la em tội nghiệp… , đàn anh rống như bò trời ơi cái thằng này, tao đào đất cửa hàng mày đổ đi bây giờ… mày muốn không hả cái thằng Phương? Hai thằng em nãy giờ đứng làm thinh, giờ nhìn mặt đàn anh là biết phải làm gì, thằng Út sấn vô nắm cổ áo của ông Sùng hộ pháp giật mạnh, nó nạt anh đừng vô lý, tui vói anh Phương trả tiền cho người ta mua về chớ của anh con cặc gì, anh tính quậy ở đây hả, cỡ anh giỏi tám chục ký chớ mấy, tướng như anh mình tui dư sức, anh dám hông… , tui nạt thằng Út không được hỗn mau cút ra ngoài rồi quay biểu thằng Tâm chạy kêu café cho lẹ, tui năn nỉ đàn anh biều anh ơi anh đừng giận em, em là em anh mà anh giận em tội nghiệp, là do em không biết chớ có đâu dám qua mặt anh, anh bỏ qua cho em anh nhé… , đàn anh cũng thừa biết tui đã bán mất tiêu còn đâu… giờ mới là lúc thích hợp nhứt, đàn anh chỉ cây đèn chín ngọn treo trên cao dịu giọng nói tao biết mày vừa mua cây đèn này giá hai triệu, vậy mày phải để cây đèn đó giá vốn cho tao, thằng tui ngập ngừng dạ, nhưng anh cho em lời tí được không anh, đàn anh lắc đầu cương quyết mày phải đền bù thiệt hại cho anh, anh trả cây đèn này hai triệu, mai mày lên lấy tiền…

Cuối cùng cây đèn đó cùng một cái đồng hồ mặt bị bể tui đã bán cho thằng Chip người Thailand (*) giá một ngàn tư và như thỏa thuận ban đầu, tui cho thằng anh kết nghĩa là Thủy “bọ” hưởng phân nửa tiền lời.

---------
Chú giải:
- (*) : Đàn anh mang cây đèn về treo ở cửa hàng mà không thèm trả tiền cho thằng em. Tui lên đòi cây đèn mang về. Anh em vì chuyện tiền bạc rồi từ đó mất lòng
./

Hổng giống ai

Hì, nghĩ lại mình cũng có chỗ khác người, ở Saigon có vài thằng không thể lẫn lộn với ai mà thằng tui cũng kể là một.

Mấy năm 2003- 2004-2005, sáng sáng chạy chiếc xe honda thứ chuyên dùng leo núi màu vàng sau lưng chở thằng con trai hai mươi mấy tuổi đi vòng vòng Đồng Khởi Nguyễn Huệ kiếm tay uống café là ông Phương “chín ngón”, đàn anh già rồi mà tánh kẹo vẫn chưa chịu già, sáng sớm uống café xong là kéo thằng tui lên lầu số 49 Đồng Khởi khoe cả khu nhà rộng minh mông ảnh mởi “giải tỏa” tức là mua lại của mấy hộ cán bộ, thằng tui biểu anh ơi, anh già cha nó rồi còn sống mấy nữa, từ giờ anh cứ mỗi ngày xài một cây giùm em, khi anh chết tụi nhỏ còn hưởng của cải nhiều lắm mà sáng sớm anh kêu em lên đây coi anh bốc đất cát chi dzậy trời, ổng nói chú còn trẻ khoái ăn chơi vậy chớ anh già rồi cứ thích mấy vụ thế này thôi, khu này anh mua xong hết rồi chú thấy rộng không, thằng tui nghe rồi tắt đài… Mấy năm trước ảnh về Bảo Lộc mua đất đào tìm đồ xưa với đá quý, không biết có đào được chi hông chớ moi quá trời đá hổng lẽ mang chôn lại, rứa là ông anh mần một thứ kêu bằng công viên đá báo chí ti vi khen tùm lum, thằng tui từng xúi ổng anh ui, anh kiếm chừng vài chục gia đình người thượng dụ nó vô khu đất của anh mà ở rồi anh kêu tụi nó cấy lúa dệt vải làm làng nghề đặng moi tiền du khách cũng được chớ bộ... Giờ lâu lâu từ Haiduong về Saigon thăm vợ con, gọi điện hỏi thăm tui anh Hải "voi" biểu ê Phương, thằng Phương "cụt" mới về Saigon hôm qua điện kêu tao qua nhà 149 của nó hai thằng tao uống tới tối nó hỏi thăm mày đi được chưa tao biểu mày còn chết ở quê chưa chịu sống dậy, mày nhớ gọi điện hỏi thăm ổng nghe Phương. nói thêm, hồi đó thân nhau tui chưa thấy ai như anh Phương "chín ngón", nhà cửa ở Đồng Khởi Nguyễn Huệ Ngô Đức Kế Mạc Thị Bưởi ai kêu anh mua ảnh mần rốp rẻng, nhà nơi khác bán mà kêu ổng nói không rảnh đi coi.

Lại cũng sáng sáng thấy hai thằng mập mạp đen thui vì quanh năm suốt tháng ngoài biển Danang, lâu lâu kéo nhau về Saigon chơi, một cha cao lớn một thì lùn tịt đi bộ thể dục từ Nguyễn Huệ qua Đồng Khởi vòng Ngô Đức kế, là hai đàn anh Chúc “Mông cổ” cùng Tám Vàng, cha nào cũng ngoài năm mươi tuổi rồi mà áo sơ-mi chim cò hoa lá tùm lum ngực áo không cài nút, ông Chúc thì suốt năm không khi mô thấy xỏ chiếc quần dài mà toàn tà lỏn dép xăng-dan lô ca chưn, chả là big boss thứ thiệt bên Mỹ, ông chủ Trung tâm băng nhạc Làng Văn ngày nào miệng ngậm xiga lái BMW seri 7 tới ngồi phòng thu âm ở Nam Kỳ Khỏi nghĩa, bên ngoài đám ca sĩ Lam Trường Phương Thanh ngồi nhai bánh mì chờ tới lượt vô thu âm vô dĩa compaq… giờ cứ tà tà đi bộ vòng vòng ngoài Saigon đói thì ghé gánh vỉa hè mần tô bún mắm, tối về leo tuốt lầu ba Ngô Đức Kế cho tiêu mỡ, kể anh Chúc 'mông cổ" cũng lạ, thấy nhiều người tỏ vẻ nể phục ảnh mà không khi nào tui thấy đàn anh xài điện thoại rồi không hiểu ông Hải “voi” ông Nhơn “râu” ông Tám Vàng bà Kim Hai muốn kiếm ông Chúc phải làm sao, nghe anh Hải “voi” biểu nay thằng Chúc nó mướn hòn đảo mấy chục năm rồi nó mới đóng chiếc tàu ngoài Danang để đi chơi chừng nào đi đã rồi nó dừng tàu lại ngủ trên biển luôn khỏi lên bờ, nay chắc nó chê nhà tường, thằng đó giờ lo hưởng không… Bữa nào rảnh tao ra Danang ở chơi với nó ít ngày leo lên tàu phơi nắng rồi ngủ đó luôn vậy tao khỏi tốn tiền khách sạn à mày...

Cha Tám Vàng cũng Việt kiều Mỹ hiện huấn luyện chò trơi nước ngoài Danang, về Saigon chả ở nhà bà già tuốt bên quận tư đi ra Nguyễn Huệ vô café Ciao dựng xe ngoài đường khi công an phường quận chi đó đi dẹp đường thấy chiếc xe Vespas sơn màu đen cũ mèm xấu xí của chả dựng chình ình dưới đường nơi ngã ba Nguyễn Huệ - Nguyễn Thiệp thì ngừng xe jeep xe tải thò đầu ngoắc mấy thằng xe ôm biểu ê đẩy xe cha Tám gọn vô mày…

Cũng một cha cao nhòng áo chim cò mang hàm râu người không quen dòm dễ ghét, ở Saigon chắc mình chả có hàm râu kiểu đó, quanh năm thấy đi bộ là anh Nhơn “râu”, thằng Việt kiều Đức về Việt nam nằm trong số vài người giống như Hải “voi” xưng hô mày tao vai đàn anh ông Hoàng Ty. Anh Nhơn "râu" thường chửi tui mày ngu lắm, đi bộ khỏe người mày không biết lại làm biếng tổ không khi nào tao thấy mày chịu thể thao, công ty mày ngay gần đây mà cứ một bước là xe hơi hèn chi mày bị tai biến cũng đáng...

Như đã nói, thằng tui kể cũng nắm trong số không giống ai ngoài Saigon (*), anh Hải “voi” từng ghẹo thằng Phương này nó không làm chuyện chi bậy bạ được vì cảnh sát chỉ cần tả tướng nó ra là thằng nào cũng biết mà chỉ rồi thằng này mày trốn đâu, thiệt, chỉ cần ra Nguyễn Huệ khúc vũ trường Queenbee cũ nay là siêu thị Edel Mall hỏi đám xe ôm hay tài xế taxi thằng trọc đầu mặc tà lỏn vẫn chạy chiếc Dyland ở đâu khu này là chúng chỉ tới nhà cũng bởi thằng tui vẫn thỉnh thoảng ngừng nói hỏi vài câu xã giao với tụi nó rồi thảy cho gói thuốc đang hút dở cùng vài chục ngàn “mời mấy anh em uống café, anh em cầm tiền kêu café giùm tui, tui bận quá thông cảm nhe”, mấy quán café Paloma, Ciao hoặc Hiland ngoài Lê Lợi Đồng Khởi tui vô lần thứ hai là tụi nhỏ biểu anh ơi anh khỏỉ cần thẻ xe chi mất công ở Saigon này anh đâu lộn với ai được, tụi em biết nhà anh ở đây chớ đâu, anh Hải anh Tám anh Nhơn cũng dzậy thui tụi em đâu cần đưa thẻ… đâu có ai giống mấy ổng mà sợ lộn thẻ lầm xe… nhà mấy anh toàn ở quanh đây mà đâu lạ chi...

---------
Chú giải:
- (*) : Dân sống tại Saigon nào giờ nay vẫn còn thói quen khi từ quận khác đi ra khu trung tâm Nguyễn Huệ Đồng Khởi Lê Lợi thì kêu là "ra Saigon", chớ quận Tân Bình Gò Vấp Phú Nhuận... hồi mấy năm trước là còn quê mùa lắm, khi nói "ra ngoài Saigon" tức ra khu trung tâm Nguyễn Huệ.
./

Mần phó giám đốc

Khoảng tháng 8 năm 1987, sau khi thử làm công nhân phân xưởng thạch cao được vài ba ngày nhắm không ổn, tui đề nghị giám đốc Ngô Quốc Chình xuất chi bảy trăm đồng cho tui đi xe đò về Bình Dương kiếm hợp đồng, sếp lắc đầu biểu em tự bỏ tiền túi trước, nếu có hợp đồng về thì xí nghiệp thanh toán lai cho em...

Tui bỏ sức chạy về Bình Dương tìm gặp anh Nguyễn Trung Ngươn (*) trưởng phòng kế hoạch XN thuốc lá Sông Bé và kiếm được hợp đồng in về cho phân xưởng in lụa của xí nghiệp, sau vụ cứu hai phân xưởng in đang chết đói dù không đủ tiêu chuẩn để được quyết định chính thức bổ nhiệm, nhưng nghiễm nhiên tui nắm gần toàn bộ phần việc của phó giám đốc kinh doanh của xí nghiệp trang thiết bị văn hóa quận I, do anh Ngô Quốc Chính là giám đốc. Thật sự mấy “xí nghiệp 54” thời điểm đó mọc như nấm sau cơn mưa, theo tui biết thì các doanh nghiệp loại này được thành lập theo quyết định 54 của thủ tướng chính phủ, chức năng là làm công tác kiếm tiền chăm lo đời sống ba lợi ích, vì vậy mấy sếp là dân a bờ cờ trong việc kinh doanh là chuyện đương nhiên.

Đời sống kinh tế người dân nói chung khi đó theo như tui nhớ thì còn thấp lắm, chị gái tui là cán bộ nhà văn hóa quận một lãnh lương được đâu mười bốn, mười lăm ngàn chi đó một tháng, quanh năm cơm rau muống chấm nước tương. Thiên hạ mà có được cơ hội kiếm tí chút, tí chút thôi nha, là không nỡ bỏ qua. Cha nội Huỳnh Tiết nay là TGĐ công ty cái gì Bến Thành mần dĩa hát… năm 1986 được anh Hai Ninh cho ra làm cửa hàng trưởng dịch vụ văn hóa, mấy chả lén bán cái bàn hay tủ chi đó được năm ngàn đồng chia nhau rồi bị ai đó thưa kiện bể ra, bị kiểm điểm hàng loạt, ông Huỳnh Tiết bị đá về Đài phát thanh quận I ngồi chơi xơi nước, ngày ngày qua xí nghiệp đánh cờ tướng ăn thuốc lá, thằng đó chơi cờ dở ẹt, thường thua lại ưa ăn gian cãi ẩu để chạy độ, tới giờ còn thiếu tui chắc cũng hơn cả gói Jet chưa chung.

Cái chức vị hữu danh vô thực kêu bằng “Phó giám đốc phụ trách kế hoạch – kinh doanh” của xí nghiệp trang thiết bị văn hóa quận I của tui là do sếp Ngô Quốc Chính tự ý phong “lậu” chớ lãnh đạo cơ quan chủ quản là anh Hai Ninh, trưởng phòng Văn hóa quận I, đâu biết tui là thằng nào. Nhờ chức vụ đó mà tui kiếm mỗi tuần được một trăm hai mươi lăm ngàn, hồi đó là lớn lắm mua được năm phân vàng 24K, hay có thể mua được chiếc đồng hồ Citizen mặt màu vàng gắn bốn hột xoàn chiếu rực, tui tự giác mang đến nhà chia cho đàn anh phân nửa (đúng là ngu quá mới tự giác thành thiệt như rứa), sếp thấy tiền thì ham mà run quá, tay nhét túi miệng hỏi, mắt dòm tui lom lom bộ lo lắng: “Tiền này là tiền gì, có sao không đấy em”.

Còn nữa, hồi đó, hẳn mọi người còn nhớ, kiếm được tấm giấy đi coi phim ở số 7 Phan Kế Bính là chuyện lớn chớ chẳng chơi, cỡ phòng Văn hóa thông tin cấp quận sức mấy đủ tiêu chuẩn được duyệt. Cán bộ nhân viên của Phòng Văn hóa quận I trước đây đã được anh Huỳnh Tiết (nghe nói vợ nó làm bên xuất khẩu chi đó, quen biết rộng) “chạy” cho cả phòng được mua vé coi một lần rồi.

Chuyện tới tai, thằng tui nhếch mép. Trưa đó qua số 7 Phan Kế Bính kiếm ông Lê Đình Thọ (**), trưởng phòng khai thác và là người thẩm quyền xét cho ai được coi, ai không được. Nghe tui “đề xuất”, ổng than chà khó quá, phòng văn hóa quận đâu đủ tiêu chuẩn, vậy làm sao duyệt và vân vân, thằng tui ngó bộ biết chả làm tuồng, tui nhẹ nhàng:

- Chú giúp cháu với… một xuất chiếu, người ta sao cháu vậy.

Nghe tui nói, chả lắc đầu làm như miễn cưỡng lắm, tay mở cuốn sổ để trước mặt:

- Bố mày có khỏe không, lâu nay chú bận quá không lên thăm bố mày được, thôi chú duyệt cho mày nhưng phải có vài vé ngoại giao nhé… để chú sắp lịch rồi báo mày qua nộp tiền nhận vé.

- Dạ, cháu cùng nghĩ là phải vậy.

Mười lăm vé “phải có để ngoại giao” thằng tui bổ đầu người chia đều số tiền cho cả phòng Văn hóa quận I, toàn thể cán bộ nhân viên hỷ hả vì được coi phim ở số 7 Phan Kế Bính.

Chừng tuần sau, hai mụ kế toán báo cho anh Chính giám đốc xí nghiệp rằng cái thằng tui lợi dụng vụ coi phim vừa rồi tự ý tăng giá vé để kiếm lời, khi gặp sếp, tui nói số tiền dó là phải chung để được giải quyết. Thằng giám đốc âm binh là sếp tui vỗ vai biểu tốt nhứt em nên thanh toán lại cho tập thể số tiền mà hai kế toán của phòng là cô Ngọc Nga và chị Muối đề nghị cho khỏi mang tiếng…, lâu quá tui không nhớ số tiền là nhiêu nữa.

Qua tháng sau, lại có người gặp thằng tui đề nghị “giải quyết cho phòng được coi phim xuất nữa”. Mẹ, không biết nó ngu hay nó nghĩ mình ngu.

Làm phó giám đốc đâu mấy tháng, thằng tui vì bày mấy kế mà sếp không nghe, hay không dám nghe, thế là thằng tui dù chỉ mới mọc vài cái lông lá liền bay ra ngoài tìm nơi đất lành đặng mà đậu.

----------
Chú giải :
- (*) : Giữa quý II năm 2005 tui lập chi nhánh Bình Dương, nhớ chuyện tình nghĩa xưa, kêu thằng Hương ký bổ nhiệm anh Ngươn là giám đốc, giao thằng Tuấn đặc biệt để ý, anh Ngươn có thằng Tuấn phụ quản lý chi nhánh từ tháng 7/2005 tới cuối tháng 6/2006, hai tháng sau khi tui bị tai biến, trước khi nghỉ hưu thì tui lên Bình Dương trực tiếp đề nghị ảnh bàn giao người khác.
- (**) : Ông Lê Đình Thọ gốc giáo viên tiểu học ở Hanoi, năm 1976 ông già tui cho theo vô Saigon và ký quyết định thu nhận cán bộ cho văn phòng 2 Bộ Văn hóa, sau về Phân viện phim tư liệu. Năm 2004 tình cờ gặp trong quán ăn, ổng lúc này là phó GĐ xưởng phim Nguyễn Đình Chiểu kiêm phó giám đốc phân viện phim tư liệu, biểu tui phải dắt vợ con tới chơi mà thằng tui quên tuốt.
./
 
Lên đầu trang