Home
  
Search từ khóa phuongngugia           English alternative text
Image alternative text alternative text alternative text alternative text alternative text alternative text alternative text

Tìm trên Google.com         Tìm trong Site này

 Trước tiên xin hãy đọc lời ngỏ này 

Món ăn truyền thống bị lãng quên

Bữa nay, tui giới thiệu món ăn được coi là nguồn gốc của món phở của Việt Nam mình, món đó có tên nguyên thủy là “Bún xáo trâu” mà tui rất thích và thường làm ăn ở nhà.

Bún xáo trâu :

Nguyên liệu:
- Thịt trâu thái mỏng - nay ở các sạp thịt bò lớn (dân trong nghề kêu những sạp thịt bò lớn bằng thớt bò) đều đã có máy thái ra miếng thịt rất mỏng.
- Bún

Gia vị gồm :
- Hành lá
- Hành ta (tím)
- Tỏi
- Mỡ heo nước (nếu tui xài dầu ăn thì là dầu đậu phọng)
- Bột ngọt (tui không bao giờ xài ba cái thứ vớ vẩn hạt nêm từ thịt xương rong biển gì gì đó đâu nhen, hẳn bà con chưa quên rằng bột nêm Knor năm 2008 bị báo chí khui ra trong thành phần toàn là bột ngọt).
- Rau răm cắt dài 1 đốt ngón tay
- Khế chua cắt ngang

Thực hiện :
1/- Ứớp thịt trâu với gia vị cho thấm
2/- Xào thịt trong khoảng 1/2 phút rồi đổ ra tô riêng, tiếp sau cho khế vào đảo đều cho tới khi miếng khế ngả màu trắng, rồi mới trút tô thịt cùng rau răm và hành vô chảo đảo khoảng 1 phút là OK măm măm.

Lưu ý, món này có tên là bún xáo trâu, chữ xáo, chữ a là dấu sắc còn dấu huyền là xào, xem ra đây chính là món bún xào thịt trâu nhưng tên của nó từ ngày xưa lại là bún xáo trâu. Bún xáo trâu và canh thuôn hành răm là 2 món ăn thuần Việt có xuất xứ từ miền bắc

Thịt trâu hay Thịt bò

Thằng tui mạn đàm về vụ này vì trong số bà con mình nhiều người do thiếu hiểu biết mà tưởng thịt trâu là cái chi ghê lắm, nói tới món thịt trâu là lắc đầu lia làm như ăn rồi thì… mắc bịnh. Người Tàu ở xứ mình không ăn thịt trâu vì họ có tục thờ ông Quan Công mà họ kêu bằng Quan thánh đế quân, và họ nói rằng ông Quan Công đó mang cốt con trâu. Hẳn ai cũng đều biết người mình xưa chỉ quen ăn thịt trâu, sau khi người Tây qua xứ mình vẫn khoái nhậu thịt bò, vậy nên người mình cùng dần quen xực thịt bò. Các cụ xưa đã nói rằng thịt trâu hay bò gì cũng đều ngon như nhau, mà con trâu là đầu cơ nghiệp của nhà nông, còn ở miền bắc thì thằng tui còn nhớ rằng bò thường chỉ để kéo xe… Lại nói khi thịt trâu trở nên hiếm thì bà con mình hè nhau quay qua tuyên dương thịt bò, thịt bò có mặt trong tô phở của người Việt với tái, nạm, gàu, gân. Còn nữa, thịt bò 7 món nổi tiếng còn là món chủ lực của nhiều nhà hàng, vân vân và vân vân…

Cách phân biệt thịt bò thịt trâu:
phuongngugia tui từng bán phở và đêm nào cũng vô lò bò để lấy xương thịt nên tui quá rành cách phân biệt thịt bò thịt trâu, nay xin phổ biến để bà con rõ, khi đứng trước thớt thịt bò, bà con đừng bao giờ tin vô miệng lưỡi của người bán mà hãy tự mình kiểm tra cho chắc ăn, đó là:
- Thịt trâu bò tươi mới thì không lạnh, khi ta áp mu bàn tay vô miếng thịt mà nghe lạnh ngắt đích thị là thịt cũ lấy trong tủ đá ra.
- Thịt bò có màu đỏ hồng hoặc đỏ tươi
- Thịt trâu có màu đỏ sẫm.
- Thớ thịt bò nhỏ, khô mịn, trong, mềm
- Thớ thịt trâu thô, ướt hơn thịt bò và hơi cứng.
- Mỡ bò màu vàng nhạt đến vàng tươi và cứng
- Mỡ trâu màu trắng và mềm.
- Thịt bò thui (thịt bê) màu hồng trắng, mắt nhìn vô theo cảm quan thấy không ngon bằng nhìn miếng thịt bò trưởng thành đỏ tươi nhưng thiệt ra thịt bò thui chế biến món ăn mới tuyệt và thường là đắt hơn thịt bò bự.

Khi mua thịt bò về đãi khách mà vì lý do nào đó mà buộc phải để qua ngày hôm sau thì bà con hãy làm theo cách của các thớt thịt bò như sau:
- Khoảng 23h bỏ thịt vô ngăn đá tủ lạnh… 2 giờ sáng hôm sau lấy thịt ra gói vô tờ giấy báo để giấy hút nước. Để miếng thịt tự rã đông, khi thịt đã nguội dùng khăn mặt khô thấm nhẹ lên miếng thịt lau khô nước thì miếng thịt sẽ đỏ tươi y như thịt mới.

Kế hoạch B

alternative text
Bữa, bà già biểu tui:
- Bố mày mất đi mà chả có gì để lại cho vợ con cả, mày có nghe nói ông ấy có đất đai gì ở quê nhà không hả con?

Tui lắc đầu:
- Con chưa từng nghe ông mình nói có gì ở quê cả bà ạ.

Bà già tui nói:
- Thế nhà cửa đất đai của ông bà nội mày ngày xưa cũng không có hả con?

Tui đáp:
- Trước đây có lần con với thằng Tâm về xã An Phú gặp chú Sơn để hỏi, chú Sơn trả lời rằng ông nội mình ở rể tại An Phú nên không có gì.

Bà già lại nói:
- Ông nội mày ở rể thế còn bà nội mày thì sao? Bà nội mày là người ở xã An Phú thì phải có nhà cửa đất đai chứ?

Tui lắc đầu:
- Bà quên rồi sao, bà nội mất từ khi ông mình còn bé tí thì làm sao bà nội có gì mà để lại được.

Bà già tui lấy tay chỉ tui mà nói:
- Mày bịnh nên lú lẫn hả con, thế mày không nhớ vụ đất đai ở Hà Nội thế nào à? Bà nội mày mất sớm cũng giống như trường hợp của dì Mạnh, dì Mạnh chả phải cũng được hưởng thừa kế của bà ngoại chúng mày đấy thôi.

Câu nói của bà già khiến thằng tui sực tỉnh.

Bà nội tui mất trước cha mẹ của bả, tương tự như dì Mạnh là em kế của bà già tui, dì Mạnh cũng mất trước bà ngoại tui, đến năm 2001, bà ngoại tui mất đi, tài sản của bà ngoại tui để lại cho các con đã bị đám con cậu Khanh là em trai thứ 3 của bà già tui phù phép để hòng chiếm đoạt. Và tụi tui đã đòi được quyền, lợi ích hợp pháp chính đáng cho bà già và dì Mạnh như tui đã nói trong bài Mắc me… người nhà.

Theo như tui biết và khi còn sống ông già thường nói chuyện thì bà nội tui chỉ có 1 con trai duy nhất là ông già tui. Bà nội tui mất từ khi ông già tui còn nhỏ nên ổng cũng không nhớ nhiều.

Bà nội tui có 1 người em trai là ông Lý Hợi, ông Lý Hợi có mấy người con cả trai cả gái nhưng tui không biết ai ngoại trừ 1 người tên là Lý Thanh Sơn vì hồi đó ông Lý Thanh Sơn thường từ xã An Phú tới nhà tui thăm ông già tui ở thị xã Thủ Dầu Một. Ông già tui và ông Lý Thanh Sơn có quan hệ họ hàng là anh em con cô con cậu ruột.

Khi ông già tui mất, mọi giấy tờ cá nhân của ông tui đã cất giữ cẩn thận, giờ tui lấy ra đọc kỹ từng tờ. Xem hết các giấy tờ của ông già, tui đã biết rõ tên của cha mẹ ổng (tức ông bà nội tui) cùng năm sinh tháng đẻ, quê quán và nơi sinh của ông già tui vân vân.

Bao nhiêu là quá đủ cho tui kết luận rằng ở xã An Phú có di sản thừa kế là cái nền nhà và đất đai của ông bà cố nội tui để lại có phần của bà nội tui mà ông già tui là hàng thừa kế thế vị, ông già tui đã mất năm 2001 thì số tài sản thừa kế mà ông già tui được hưởng tọa lạc tại quê nhà là xã An Phú, huyện Thuận An đương nhiên thuộc về gia đình tui. Nhớ lại thái độ của cha Lý Thanh Sơn ngày 8/9/2007, tui hiểu bữa đó cha Sơn tưởng tui về hỏi vụ đất đai nên trở mặt làm như không quen biết.

Giờ thì đã rõ là tui phải khởi kiện Lý Thanh Sơn để đòi di sản thừa kế của ông bà xưa để lại cho bà nội tui, di sản đó ít nhất phải là phân nửa cái nền nhà.

Mất vài ngày suy nghĩ, rồi tui giúp bà già làm đơn gởi tới các cơ quan chức năng để khởi kiện ông Lý Thanh Sơn đã xâm phạm quyền, lợi hợp pháp của công dân.

Lý Thanh Sơn, qua tìm hiểu thì tui biết chả đang là phó chánh thanh tra nhà nước huyện Thuận An, tỉnh Bình Dương. ”Nghèo không đụng với giàu, dân không đụng với quan”, tui hiểu mình đang phạm phải điều kiêng kỵ. Thế nhưng, tui vẫn cho rằng mặc dù sẽ có nhiều trở ngại nhưng cuối cùng phần thắng phải thuộc về lẽ phải.

Vụ kiện năm 2003 đòi di sản thừa kế của bà ngoại tui khi chết để lại ở Hà Nội, tui gọi là “Kế hoạch A”. Vụ kiện tranh chấp đòi di sản thừa kế của gia đình ở Bình Dương lần này tui gọi là “Kế hoạch B”.

Có nghe thấy chăng ?


“… Cần nhắc lại rằng, đầu những năm 1980 Chính phủ đã đưa chương trình khảo sát khai thác bô-xít trên Tây Nguyên vào chương trình hợp tác đa biên với khối COMECON. Tôi được phân công trực tiếp theo dõi chỉ đạo chương trình này. Sau khảo sát đánh giá hiệu quả tổng hợp của các chuyên gia Liên Xô, khối COMECON đã khuyến nghị Chính phủ ta không nên khai thác bô-xít trên Tây Nguyên do những nguy cơ gây tác hại sinh thái lâu dài rất nghiêm trọng, không thể khắc phục được đối với dân cư chẳng những tại chỗ mà còn cả dân cư và vùng đồng bằng Nam Trung Bộ. Chính phủ khi đó đã quyết định không khai thác bô-xít mà gìn giữ thảm rừng và phát triển cây công nghiệp (cao su, cà phê, chè...) trên Tây Nguyên.

Ý kiến phản biện của các nhà khoa học nước ta vừa qua phân tích trên nhiều phương diện, trong các điều kiện kinh tế kỹ thuật hiện nay cũng đi tới kết luận như các nhà khoa học Liên Xô cách đây 20 năm. Với những cảnh báo nghiêm trọng như vậy, chúng ta cần xem xét các dự án này một cách khách quan - cần đánh giá lại quy hoạch khai thác bô-xít trên Tây Nguyên…”


alternative text
Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên

“… Theo tự nhiên, dân đồng bằng phải có ruộng, người miền núi phải có rừng. Nay cho thuê hết đất rừng thì người dân sẽ mưu sinh thế nào, điều đó cần phải làm rõ. Bao nhiêu cuộc kháng chiến của ta cũng chỉ vì mục tiêu người cày có ruộng, người dân miền núi có rừng. Cách mạng thành công cũng nhờ mục tiêu đó mà người dân hướng theo.”

D32 tái xuất giang hồ

Hai tháng nay mới lại có thời gian mò mẫm trên mạng, tình cờ đọc báo ”Lao động” thằng tui được biết phần mềm Anti virus D32 của thạc sĩ Trương Minh Nhật Quang tái xuất giang hồ để lại tham gia vô cuộc chiến chống virus máy tính từ thời điểm cuối năm 2009. Tui tải về rồi cài đặt vô máy thì gặp lỗi, và sau khi đọc kỹ phần hướng dẫn thì tui lưu ý bà con rằng nên mở máy tính của mình với quyền quản trị cao nhất thì sẽ không bị lỗi.

Để chắc chắn rằng mình đã đăng nhập máy tính với quyền quản trị cao nhất thì bà con hãy mần như sau:
1/- Mở máy tính.
2/- Vô Control Panel
3/- Kích đúp vô Use Accounts
4/- Nhấp chuột vô User

Xong.

Với chiến tích từ những năm đầu của thập niên hai ngàn và là người đầu tiên nghiên cứu thành công phần mềm quét virus trên Windows tại Việt Nam của Trương hiệp sĩ, thằng tui rất vui vì hay tin D32 đã quay trở lại và tui rất tin tưởng khi sử dụng phần mềm diệt Anti vivus D32. Nếu có phiên bản thu phí để tiếp tục đầu tư cho việc nghiên cứu và phát triển phần mềm Anti virus D32 thì tui sẽ là một trong số những người đầu tiên mua bản D32 thu phí.

Mong bà con hãy ủng hộ thạc sĩ Trương Minh Nhật Quang qua việc sử dụng phiên bản D32 có thu phí.

Chỉ có một chi tiết rấ nhỏ là khi trò chuyện với Đất Việt, khi được hỏi về Điểm mạnh và điểm yếu của D32 so với BKAV là gì? Câu trả lời Trương hiệp sĩ đã tỏ ra thiếu kềm chế sự hậm hực khi anh nói “…Chúng tôi không sợ và cũng không nghĩ D32 sẽ tranh phần với ai…”

Thằng tui thông cảm cho một nhân tài và lấy làm tiếc vì trường đại học Cần Thơ đã không làm điều mà trường ĐH Bách khoa Hà Nội đã làm cho Nguyễn Tử Quảng.

Tuy nhiên, với sự trở lại lần này, Trương Minh Nhật Quang vẫn chứng tỏ cho mọi người thấy tài năng xuất chúng bằng phiên bản 2009 của phần mềm Anti virus D32 được áp dụng công nghệ nhận dạng virus máy tính hướng tri thức, công nghệ này cho phép xây dựng hệ phần mềm dạy cho máy cách tự phát hiện và chữa trị các bệnh lạ do virus gây ra… Nghĩa là công nghệ hoàn toàn mới khác với nhiều phần mềm quét virus hiện nay.

Bàn về cụm từ “Con ông cháu cha”

Nhớ lại, những năm cuối thập niên bảy mấy thế kỷ trước tui từng đọc tờ báo “Sài Gòn giải phóng”, trong đó có bài viết mà tôi không còn nhớ rõ, chỉ nhớ đại khái rằng tác giả viết bài nói về chuyện ăn chơi của các con cha cháu ông. Lại nhớ rằng sau khi vô Saigon tui đọc sách báo miền nam thấy có cụm từ Con ông cháu cha chớ đâu phải con cha cháu ông…

Sau này tui tìm hiểu để biết hai câu nói đó các nhà báo chế độ “ngụy” viết đúng hay nhà báo việt cộng mới đúng.

Không giống bây giờ, trước đây quả thiệt chế độ “ta” rất xa lạ với cách xưng hô theo kiểu như là ông nghị sĩ, ông thủ tướng, ông dân biểu vân vân mà phải nghiêm chỉnh quán triệt rồi chấp hành tốt cách xưng hô của Mao chủ tịch vĩ đại đã dạy, đó là tất cả gọi nhau bằng đồng chí, tỷ dụ như đồng chí chủ tịch nước, đồng chí chiến sĩ binh nhì vân vân.

Người dân sống trong chế độ “ngụy” kêu bằng con ông quận trưởng thì các đồng chí đồng bào “ta” gọi là con đồng chí chủ tịch UBND quận.

Vậy nên người phe “ta” do không hiểu mà cứ nằng nặc cho rằng đã là con thì phải là con của bố chớ đâu thể là con của ông.

“Ta” lại nhứt định giả vờ không biết rằng giáo dân đạo công giáo thường kêu các giám mục linh mục bằng “cha” rồi xưng “con” – Điều này làm tổn thương lòng tự ái của “ta” rất lớn vì “ta” chỉ cần bác chớ đâu cần cha.

Chế độ “ngụy” tự do tôn giáo mới biết rằng có cha nhà thờ chớ chế độ “ta” thì do học theo lối tuyên truyền của Joseph Göbbels bộ trưởng chế độ Quốc xã chuyên lừa dối bá tánh riết nên tự kỷ ám thị cũng tưởng rằng không có nhà thờ cùng không có cha sở.

Suy cho cùng, thằng Bờm vốn không biết chữ cộng với bản chất bần cố nông khốn nạn chỉ quen giải quyết mọi việc bằng dao súng thì mần răng mà bắt bẻ hay giải thích cho nó đặng, bởi vậy Bờm ta cứ nhứt định rằng đã là con của bố thì phải là cháu của ông.

Nhân đây tui xin trích dẫn để bá tánh coi chơi hầu hiểu thêm tại sao nhà thờ lại có quyền lực lớn ?

(Dẫn)
Giáo Hoàng Gregory VII (1073-1085) ban hành những quyết định để đặt ra những quy luật cho bọn vua chúa dưới quyền phải theo đó mà tuân hành. Đây là bản Tuyên Cáo "Dictatus papae" gồm 27 điều gọi là nguyên tắc có hiệu lực như luật. Bản tuyên cáo này được ban hành vào năm 1075 và là một tài liệu lịch sử. Tài liệu này được ghi trong THE HUMAN RECORD - sources of global story", Vol I, Andrea-Overfield, University of Vermont, 1999, tr. 225-226) và được nhà biên khảo Vũ Huy Quang ghi lại đầy đủ đăng trong tờ Giao Điểm Số 28, tháng 12/1997. Dưới đây là 27 nguyên tắc này:

“1.- Rằng Giáo Hội La Mã do một mình Thiên Chúa lập nên.

2.- Rằng chỉ có Giáo Hội La Mã được quyền cai quản toàn cầu.

3.- Rằng chỉ có Giáo Hoàng mới có quyền bổ nhiệm hay bãi chức các giám mục.

4.- Rằng đại diện của Giáo Hoàng dù là có cấp bậc thấp hơn trong hàng giáo phẩm cũng có quyền chủ tọa hội đồng giám mục và có quyền truất bỏ các giám mục.

5.- Rằng Giáo Hoàng có quyền truất phế những người vắng mặt (nghĩa là không cho bị cáo được điều trần).

6.- Rằng, dù bất cứ lý do nào, không ai được sống chung hay sống cùng một mái nhà với những người đã bị Giáo Hội rút phép thông công (bị phạt vạ tuyệt thông).

7.- Rằng, tùy theo nhu cầu của hoàn cảnh, chỉ có Giáo Hoàng mới có quyền làm giáo luật mới để thiết lập một chức vụ giám mục mới.

8.- Rằng chỉ có Giáo Hoàng mới được mang huy hiệu đế quốc.

9.- Rằng tất các ông hoàng đế và vua chúa sẽ được hôn bàn chân của Giáo Hoàng.

10.- Rằng chỉ có tên Giáo Hoàng mới được đọc lớn ở các giáo đường.

11.- Rằng danh hiệu đã được áp dụng đối với Giáo Hoàng sẽ chỉ có một mình Ngài được sử dụng.

12.- Rằng Giáo Hoàng có quyền truất phế tất cả các ông hoàng đế.

13.- Rằng, nếu cần, Giáo Hoàng có quyền thuyên chuyển các giám mục ra khỏi giáo phận đương nhiệm.

14.- Rằng Giáo Hoàng có quyền phong chức cho bất kỳ người nào ở bất kỳ nơi nào vào bất kỳ chức vụ nào trong Giáo Hội.

15.- Rằng bất kỳ người nào đã được Giáo Hoàng phong chức đều có thể quản nhiệm một nhà thờ khác.

16.- Rằng không có một đại hội nghị tôn giáo nào được nhóm họp nếu không có lệnh của Giáo Hoàng.

17.- Rằng không có một quyết định của một hội nghị tôn giáo được coi là giáo luật và cũng không có một sách nào được coi là giáo luật nếu không có quyết định của Giáo Hoàng ở trong đó.

18.- Rằng không ai có quyền hủy bỏ sắc luật của Giáo Hoàng và rằng Giáo Hoàng có thể hủy bỏ sắc luật của bất kỳ người nào.

19.- Rằng không ai có quyền xét đoán Giáo Hoàng.

20.- Rằng không ai có thể dám lên án một người đã cầu cứu đến Giáo Hoàng.

21.- Rằng mọi vấn đề quan trọng trong bất cứ thánh đường nào cũng phải đệ trình lên Giáo Hoàng.

22.- Rằng Giáo Hội La Mã không bao giờ sai lầm trước mọi vấn đề thuộc về vĩnh cửu đúng theo như kinh thánh.

23.- Rằng ngôi vị Giáo Hoàng đã được thánh hóa từ sự vinh quang của Thánh Peter.

24.- Rằng theo lệnh hay phép của Giáo Hoàng, thần dân (nhân dân) trong nước có quyền tố cáo nhà cầm quyền của họ (với Giáo Hội).

25.- Rằng Giáo Hoàng có quyền truất phế hay tái phong chức cho các giám mục mà không cần phải triệu tập một hội nghị tôn giáo để quyết định.

26.- Rằng không ai được coi như là tín đồ Da-tô nếu người đó không đồng thuận với Giáo Hội La Mã.

27.- Rằng Giáo Hoàng có thể "giải trừ cho nhân dân khỏi phải làm bổn phận đối với các ác quyền bất công." [3] [4]


Dẫn chứng trên cho thấy giáo hội đã dành được quyền lực ghê gớm, vậy thì các tu sĩ nhà thờ phải được kính nể trong các quốc gia thiên chúa giáo. Việt Nam thời Ngô Đình Diệm là một quốc gia như vậy, các cha nhà thờ mà tiêu biểu là đức cha Ngô Đình Thục có quyền uy sinh sát bao trùm lãnh thổ, vậy đương nhiên các chức sắc của nhà thờ phải được kính sợ, theo quy định thì các cha không được phép cưới vợ nghĩa là không thể công khai có con, vậy thì là nói cháu cha đây tức là chỉ các cháu ruột hay cháu họ của cha.

Đám công tử con các ông lớn thì báo chí chế độ mấy chục năm trước và cả ngày nay đều kêu chung bằng đám con ông cháu cha.

Vậy câu thành ngữ “Con ông cháu cha” phải có xuất xứ từ thời Đệ nhất Cộng hòa.

Rảnh thì ba lăng nhăng vậy mà.

Ăn bắc mặc nam

Lại nói, có mấy ai hiểu đặng câu thành ngữ “Ăn bắc, mặc nam”, nhiều người Saigon thường với vẻ tự hào mà gật gù rằng nói về chuyện ăn thì người bắc sành điệu hơn nhưng về vụ mặc thì người Saigon hơn hẳn…

Thiệt là một sự so sánh gượng ép quá cỡ, có nhiều câu nói lưu truyền trong nhân gian mà lúc rảnh rỗi thằng tui vẫn nghiệm chơi để tìm lời giải đáp, nay thì tui tìm hiểu về xuất xứ của câu nói trên.

Từ những năm đầu thế kỷ trước, nước ta trong tình trạng bị người tây đô hộ, mặt tích cực là người dân từ lạc hậu dần trở nên văn minh…

Xứ Nam kỳ là vùng đất bảo hộ, cách sinh hoạt của người nam vốn chưa căn bản hình thành cái riêng nên lai tạp nhiều bởi lối sống của các vùng miền khác, nhất là bị ảnh hưởng bởi các chú chệt cùng bầu đoàn thê tử tha hương…

Xứ Bắc kỳ (TONKIN) thì bị ảnh hưởng lễ giáo nên cách sinh hoạt nhất là trang phục của phụ nữ hầu hết đều mang bản sắc truyền thống. Xã hội xứ Nam kỳ (Cochinchine) thì có vẻ giống như các vùng đất thuộc địa khác, vì Saigon có quá đông người nhiều quốc tịch nhập cư, đông nhứt là người Hoa từng sinh sống có khi đã vài đời nên tui thấy Saigon hồi đầu thế kỳ 20 giống như thành phố Thượng Hải của Trung Hoa.

Xã hội phương tây phát triển thì thời trang ăn mặc của các chân dài mẫu quốc đương nhiên ảnh hưởng lớn đến các bà các cô xứ Cochinchine, dân Nam kỳ vốn không có tục theo lối của dân Bắc kỳ nhuộm răng đen xấu ỉnh, vậy thì đờn bà con gái ra đường đâu cứ phải áo nâu váy chụp, tại sao không áo đầm tây, sường xám Thượng Hải khoe đùi khoe đường cong thân thể cho các đấng mày râu điên đảo? Dân vùng đất phương nam vốn là con cháu những người “đi trước mở đường máu” (Tìm đọc cuốn Hương rừng Cà Mau của Sơn Nam) xưa, họ vốn ăn ngay nói thẳng, trong cách ăn mặc thì xấu che tốt khoe, xã hội miền nam khi đó chắc phải hưng thạnh lắm, khi xã hội phát triển thì văn hóa được nâng cao bởi vậy mới xuất hiện các cô đào lừng danh Năm Phỉ, Phùng Há.

alternative text
Người Saigon xưa

Sau năm 1954, trong khi miền nam vẫn tiếp tục phát triển thì miền bắc tìm quay về lối xưa xây dựng chủ nghĩa cộng đồng người nguyên thủy, riêng về ăn mặc thì đàn ông buộc phải từ bỏ cà vạt vét tông com pờ lê sang trọng lịch lãm, đàn bà con gái thì bị cấm mặc áo dài tha thướt quốc hồn quốc túy mà tất cả đồng loạt buộc phải trưng diện với duy nhứt bộ đồ đại cán của anh lớn Mao Trạch Đông vĩ đại muôn năm.

Năm bảy lăm, dân Saigon mở hé cửa nhà mà lén dòm mấy ảnh nắm tay vợ con từ trong rừng lơ láo rách rưới dơ dáy da xanh lè nghênh ngang ra nắm chánh quyền, họ còn thấy gia đình các cán bộ miền bắc người ngợm ốm nhách vì thiếu ăn từ Hà Nội dắt díu nhau lôi thôi lếch thếch vô tiếp quản… Thế là chỉ sau thời gian ngắn, “Hòn ngọc viễn đông” trở thành cục đất khô cằn sỏi đá.

Vậy đó, theo tui thì câu thành ngữ “Ăn bắc mặc nam” phải được hình thành trong bối cảnh xã hội Cochinchine khoảng vài ba thập niên đầu thế kỷ 20, mong bá tánh vốn người nam đừng vì thiếu hiểu biết lòe mình lòe người mà tự hào vô căn nữa nghen.

Khoe ?

Tỉnh Bình Dương chỉ cách thành phố Hồ Chí Minh hơn 20 km mà cách nghĩ cùng hành xử của người dân chung quanh chuyện cho con đi học trường mẫu giáo sao mà lạc hậu thua kém Saigon quá xa.

Con gái tui nay vừa đầy 2 tuổi và cũng chuẩn bị tới trường mẫu giáo. Khi đi hỏi thì mới biết hóa ra nay gởi con ở trường mẫu giáo bất kể là trường tư thục hay công lập, người ta coi chuyện hàng tháng phải bồi dưỡng thêm cho các cô bảo mẫu vài ba trăm là chuyện gần như bắt buộc nếu muốn con mình được các cô chú ý chăm sóc (?!).

Tới nay là năm 2010 mà sự lạc hậu của dân tỉnh lẻ vẫn biểu lộ rõ nét nhất ở chỗ người ta kể với vẻ khoe khoang không dấu diếm rằng có con đi gửi nhà trẻ thì mỗi tháng phải bồi dưỡng riêng cho mỗi cô giáo ba trăm ngàn, nếu không thì con mình đừng hòng được quan tâm như con người khác (?!)

Điều đáng nói là vợ một quan chức cao cấp trong ngành tòa án của tỉnh cũng với vẻ hớn hở kể với má của con gái tui rằng hàng tháng ngoài tám trăm ngàn tiền trường cho con gái chị ta còn phải cho thêm hai cô giáo mỗi cô ba trăm ngàn nữa vị chi là một triệu tư. Tui nghe nói mà không tin nay vẫn còn ba cái chuyện kỳ cục rứa bèn hỏi một vài người quen đang có con nhỏ đi học mẫu giáo thì tất cả đều xác nhận chuyện đó là có thiệt.

Thằng tui hãy hỏi, khi các phụ huynh đồng loạt mặc nhiên chấp nhận hàng tháng đóng riêng cho một hay hai cô giáo bảo mẫu của con mình hai hoặc ba trăm ngàn, và rồi một vài bậc phụ huynh vì muốn con mình được hưởng quan tâm đặc biệt của các cô nên tự ý nâng mức bồi dưỡng lên năm trăm ngàn, vậy chẳng hóa ra những phụ huynh nào chỉ bồi dưỡng riêng cho cô giáo ba trăm ngàn mỗi tháng thì con cái họ lại không được quan tâm ?

Cái lý do vớ vẩn này in hình là một chuyện không nhỏ ở trong đời sống người dân tỉnh lẻ Bình Dương. Thiệt đúng như sách đã nói rằng một môi trường sống không tốt, bối cảnh xã hội tệ hại thì sản sinh ra những con người tồi tệ.

Hic


 
Lên đầu trang